113 Phong kiều dạ bạc. Trương Kế
113. 楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天,江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,夜半鐘聲到客船。
作者: 《楓橋夜泊》是唐代詩人張繼的作品。
張繼(約715年-779年),盛唐詩人。 《全唐詩》中,有四十餘首。 《楓橋夜泊》是他最著名的詩,此千古名篇讓蘇州寒山寺名揚海內外。
詞語註釋
- 此詩題目也作《夜泊楓橋》。楓橋:Phong Kiều, hiện ở Tô Châu .
- 江楓:Giang phong = hàng cây phong bên sông. Cũng có người cho là gọi tắt Giang thôn kiều và Phong kiều, hai cây cầu cạnh chùa Hàn Sơn.
- 姑蘇: Cô Tô, tên đất, nay thuộc thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô bên Tàu.
- 讓 nhượng: 1. nhường; 2. khiến (nghĩa trong bài).
- 海內外: trong và ngoài nước.
Học: 楓(枫)泊烏(乌)漁對(对)鐘(钟)繼(继)餘(余)篇。
01. 楓 (枫) phong /fēng/ = cây phong. Bộ mộc 木. HT, T: phong 風 gió
02. 泊 bạc /bó/ = đậu thuyền; hồ. Bộ thủy 水. HT, T: bạch 白 trắng.
漂泊 ở hết chỗ này đến chỗ nọ, trôi giạt. 浪泊 hồ Lãng Bạc, Hà Nội.
Đồng âm: bạc 薄 mỏng.
03. 烏 (乌) ô /wū/ = con quạ; đen; tiếng than. 烏云 mây đen.
Bộ hỏa 火. Ô烏 khác với điểu 鳥 một nét vẽ chỉ con mắt. Là do mắt tiệp với màu lông (đen) nên không thấy.
04. 漁 (渔) ngư /yú/ = đánh cá. Bộ thủy 水. HT, thanh: ngư 魚 cá.
漁舟 thuyền đánh cá. 漁甫 ông làm nghề đánh cá. 漁民 dân đánh cá.
05. 對 (对) đối /duì/ = đối mặt, đáp lại. Bộ 寸 thốn. HY. Hình bàn tay寸 cầm vũ khí là cái chĩa đầu nhọn 业 như sừng dê 羊 (viết thiếu) đối diện với kẻ địch.
不對 không thích hợp. 對子 câu đối. 對偶 đối ngẫu (phép làm văn, hai câu có cấu trúc, âm nghĩa đối ứng nhau).
06. 鐘 (钟) chung /zhōng/ = chuông. Bộ 金 kim. HT, T: đồng 童.
Chú ý: kim 金 + đồng 童= chung 鐘 chuông. Kim 金 + đồng 同 = đồng 銅 kim loại.
07. 繼 (继) kế /jì/ = nối tiếp. Bộ mịch糸. Vốn viết 㡭, là hình những búi tơ bị đứt được nối lại; sau thêm bộ mịch.
繼後 tiếp sau. 繼世 thế hệ tiếp theo. Kế vị = nối ngôi. 繼父 cha kế. 繼母 mẹ kế.
08. 餘 (余) dư /yú/ = dư thừa. Bộ thực 食. HT, T: dư 余 ta.
餘生 sống thừa. 餘事 việc khác. 三十有餘 ba mươi có lẻ. 餘月 như 閏月 tháng nhuận.
09. 篇 thiên /piān/ = thiên, chương (sách); sách.
全篇: cả bài, cả tác phẩm. Bộ trúc 竹. HT, T: biển 扁.
Đồng âm: 天 trời, 千 ngàn.
Giản: 月落乌啼霜满天,江枫渔火对愁眠。姑苏城外寒山寺,夜半钟声到客船。张继注: 張繼(约715年-779年),襄州襄阳(今湖北襄阳)人,盛唐末詩人。《全唐詩》中,有四十餘首。《楓橋夜泊》是他最著名的詩,此千古名篇让苏州寒山寺名扬海内外。
Âm: Phong Kiều dạ bạc.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Chú: Trương Kế (ước 715 – 779) Tương Châu Tuong Dương (kim Hồ bắc Tương Dương) nhân, thịnh Đường mạt thi nhân. “Toàn Đường thi” trung hữu tứ thập dư thủ. “Phong kiều dạ bạc” thị tha tối trứ danh đích thi, thử thiên cổ danh thiên nhượng Tô Châu Hàn Sơn tự danh dương hải nội ngoại.
Nghĩa: Đêm trên bến Phong Kiều.
Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời. khách buồn không ngủ được, nhìn hàng phong bên sông, ngọn đèn trên mấy chiếc thuyền chài. Từ chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô, nửa đêm tiếng chuông vẳng đến thuyền khách.
Chú: Trương Kế (ước khoảng 715 – 779) người Tương Châu (nay là Tương Dương, Hồ Bắc), là nhà thơ cuối thời Thịnh Đường. Trong tập “Toàn Đường thi” có hơn 40 bài thơ của ông. “Phong Kiều dạ bạc” là bài thơ nổi tiếng nhất của ông, bài thơ này đã khiến chùa Hàn Sơn Tô Châu nổi tiếng trong và ngoài nước.
Dịch thơ: của Nguyễn Hàm Ninh
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Tập đọc: 春草. 張旭
Comments
Post a Comment