Bài 2. Vạn sự khởi đầu nan
2. 萬事起頭難 · Bộ thủ.
萬事起頭難。
万事起头难。
Vạn sự khởi đầu nan /wàn shì qǐ tóu nán/
= Mọi việc lúc mới bắt đầu làm thì khó.
Như người Anh nói the first step is always the hardest.
HỌC: 艸(艹)萬(万) 口史亅事走己起豆頭(头)又隹難(难)。
萬事起頭難。
万事起头难。
Vạn sự khởi đầu nan /wàn shì qǐ tóu nán/
= Mọi việc lúc mới bắt đầu làm thì khó.
Như người Anh nói the first step is always the hardest.
HỌC: 艸(艹)萬(万) 口史亅事走己起豆頭(头)又隹難(难)。
14. 艸thảo /căo/ = tên bộ thủ, tượng hình cây cỏ.
Chú ý艸 chỉ làm bộ thủ, kết hợp với hình (chữ) khác để tạo chữ mới, còn chữ thảo với nghĩa cây cỏ viết khác, sẽ học sau. Khi kết hợp, nếu nằm trên đầu chữ thì thường viết thành ++ (hoặc viết liền thành 艹). Dạng viết khác như thế được gọi là các biến thể (BT).
15. 萬 (万) vạn /wàn/ = vạn. Bộ 艸 thảo. Hình con bọ cạp, nghĩa gốc là con bọ cạp. Mượn (giả tá GT) chỉ số mười ngàn.
一萬 một vạn. 萬一 một phần vạn; chỉ sự việc khó xảy ra.
16. 口 khẩu /kǒu/ = miệng; tên bộ thủ. TH.
Hải khẩu = cửa biển. Nhân khẩu = số người (trong nhà, ..)
04. 史 sử /shĭ/ = lịch sử; một chức quan coi về văn thư. Bộ 口 khẩu. HY. Hình tay cầm bút viết sử. Nghĩa gốc là sử quan.
Tiền sử = thời trước khi biết viết sử.
17. 事 sự /shì/ = sự việc. Bộ quyết 亅 (nét sổ có móc). Vốn sử 史, sự 事 ban đầu là một chữ (giáp cốt văn viết như nhau), nghĩa gốc là quan lại chép lại các sự việc. Về sau mới viết khác để khu biệt ý nghĩa.
18. 走 tẩu /zǒu/ = chạy. Bộ thủ. Tượng hình người đang chạy .
19. 己 kỉ /jǐ/ = mình; can kỉ. Bộ thủ. Hình sợi dây thắt nút, xưa dùng ghi nhớ công việc. Nghĩa gốc là đầu mối. GT. Dạng chữ khải trông rất giống hình một người ngồi tay chân co lại chỉ vào mình.
Tri kỉ = biết mình. Vị kỉ = chỉ vì mình.
20. 起 khỉ /qǐ/ = dậy, bắt đầu. Cũng đọc khởi. Bộ tẩu 走. Chữ hình thanh (HT), thanh: kỉ 己.
21. 豆 đậu /dōu/ = hạt đậu. Bộ thủ. Hình bát gỗ xưa dùng đựng đồ cúng. Nghĩa gốc là cái bát gỗ. GT.
22. 頭 (头) đầu /tóu/ = cái đầu. Bộ hiệt 頁 (đầu). HT, thanh: đậu 豆 (cây đậu).
Thạch đầu = hòn đá. Đầu mục = đầu sỏ, trùm.
23. 又 hựu /yòu/ = lại, lần nữa. Tượng hình bàn tay , nghĩa gốc là tay. GT
24. 隹 chuy /zhuì/ = tên gọi chung giống chim đuôi ngắn. Bộ thủ. Chữ tượng hình (TH).
25. 難 (难) nan /nán/ = khó. Bộ chuy 隹. Phần bên trái là thanh phù (pinyin là /hàn/), nghĩa gốc là tên một loài chim. GT. Chuyển chú (CC) đọc nạn = tai họa. Giản thể là chữ hội ý HY: Dùng tay không 又 bắt chim, dĩ nhiên là khó rồi
Khốn nạn = nghèo khổ (ở ta hiểu là tệ hại). Đại nạn = họa lớn.
Chú: Góc trên trái viết là 廿 , riêng người Nhật còn viết là 艹 . Tổng cộng chữ 難 truyền thống có 19 nét, người Nhật viết chỉ 18 nét.
Bộ, bộ thủ
Từ điển tiếng Việt, tiếng Anh sắp các mục từ theo thứ tự abc.
Từ điển chữ Hán thường sắp theo theo nhóm, gọi là bộ, mỗi chữ Hán đều thuộc vào một (và chỉ một) bộ. Chữ đứng đầu của mỗi bộ gọi là bộ thủ, tên bộ lấy theo tên chữ đứng đầu này. Các chữ thuộc bộ nào thì trong tự dạng đều có chứa bộ thủ của nó. Ví dụ:
Các chữ nhất 一, tam 三, thượng 上, hạ 下 thuộc bộ nhất 一; nhất 一là bộ thủ của bộ này.
Chữ vạn 萬 thuộc bộ thảo 艸, trong đó thảo được viết dưới dạng 艹, là biến thể (BT) của nó. Sáng kiến sắp xếp chữ Hán theo bộ là của Hứa Thận, dùng trong cuốn tự điển Thuyết Văn Giải Tự của ông (hoàn thành năm 100). Ông chia hơn 9 ngàn chữ Hán thu thập được thành 514 bộ. Về sau người ta tìm cách sắp lại hợp lí hơn, giảm bớt số bộ. Các từ điển hiện nay sử dụng 214 bộ, sắp thứ tự theo số nét của bộ thủ; trong từng bộ, các chữ cũng được sắp thứ tự theo số nét, chữ ít nét đứng trước.
Trước đây chủ yếu sử dụng từ điển giấy, nên việc nhớ chữ nào thuộc bộ nào rất quan trọng, vì giúp tra từ điển được thuận tiện hơn. Ngày nay, ta có thể tra chữ Hán dễ dàng trên máy tính hay smartphone bằng nhiều cách, việc nhớ bộ thủ không còn quá cần thiết như xưa. Dù vậy, như đã thấy trên, bộ thủ là thành phần cốt lỏi của mỗi chữ Hán, giúp nhận ra được cấu tạo, và có khi, trường nghĩa của nó, giúp dễ nhớ mặt chữ, nghĩa chữ hơn. Vì lí do này, nhiều người chủ trương học chữ Hán, trước tiên phải thuộc lòng 214 bộ thủ. Nhưng học luôn một lúc hơn 200 bộ thủ, dù có ca, vè giúp trí nhớ, vẫn là một công việc vất vả, khá chán. Ta sẽ học và nhớ dần các bộ thủ qua các bài học.
Chú ý艸 chỉ làm bộ thủ, kết hợp với hình (chữ) khác để tạo chữ mới, còn chữ thảo với nghĩa cây cỏ viết khác, sẽ học sau. Khi kết hợp, nếu nằm trên đầu chữ thì thường viết thành ++ (hoặc viết liền thành 艹). Dạng viết khác như thế được gọi là các biến thể (BT).
15. 萬 (万) vạn /wàn/ = vạn. Bộ 艸 thảo. Hình con bọ cạp, nghĩa gốc là con bọ cạp. Mượn (giả tá GT) chỉ số mười ngàn.
一萬 một vạn. 萬一 một phần vạn; chỉ sự việc khó xảy ra.
16. 口 khẩu /kǒu/ = miệng; tên bộ thủ. TH.
Hải khẩu = cửa biển. Nhân khẩu = số người (trong nhà, ..)
04. 史 sử /shĭ/ = lịch sử; một chức quan coi về văn thư. Bộ 口 khẩu. HY. Hình tay cầm bút viết sử. Nghĩa gốc là sử quan.
Tiền sử = thời trước khi biết viết sử.
17. 事 sự /shì/ = sự việc. Bộ quyết 亅 (nét sổ có móc). Vốn sử 史, sự 事 ban đầu là một chữ (giáp cốt văn viết như nhau), nghĩa gốc là quan lại chép lại các sự việc. Về sau mới viết khác để khu biệt ý nghĩa.
18. 走 tẩu /zǒu/ = chạy. Bộ thủ. Tượng hình người đang chạy .
19. 己 kỉ /jǐ/ = mình; can kỉ. Bộ thủ. Hình sợi dây thắt nút, xưa dùng ghi nhớ công việc. Nghĩa gốc là đầu mối. GT. Dạng chữ khải trông rất giống hình một người ngồi tay chân co lại chỉ vào mình.
Tri kỉ = biết mình. Vị kỉ = chỉ vì mình.
20. 起 khỉ /qǐ/ = dậy, bắt đầu. Cũng đọc khởi. Bộ tẩu 走. Chữ hình thanh (HT), thanh: kỉ 己.
21. 豆 đậu /dōu/ = hạt đậu. Bộ thủ. Hình bát gỗ xưa dùng đựng đồ cúng. Nghĩa gốc là cái bát gỗ. GT.
22. 頭 (头) đầu /tóu/ = cái đầu. Bộ hiệt 頁 (đầu). HT, thanh: đậu 豆 (cây đậu).
Thạch đầu = hòn đá. Đầu mục = đầu sỏ, trùm.
23. 又 hựu /yòu/ = lại, lần nữa. Tượng hình bàn tay , nghĩa gốc là tay. GT
24. 隹 chuy /zhuì/ = tên gọi chung giống chim đuôi ngắn. Bộ thủ. Chữ tượng hình (TH).
25. 難 (难) nan /nán/ = khó. Bộ chuy 隹. Phần bên trái là thanh phù (pinyin là /hàn/), nghĩa gốc là tên một loài chim. GT. Chuyển chú (CC) đọc nạn = tai họa. Giản thể là chữ hội ý HY: Dùng tay không 又 bắt chim, dĩ nhiên là khó rồi
Khốn nạn = nghèo khổ (ở ta hiểu là tệ hại). Đại nạn = họa lớn.
Chú: Góc trên trái viết là 廿 , riêng người Nhật còn viết là 艹 . Tổng cộng chữ 難 truyền thống có 19 nét, người Nhật viết chỉ 18 nét.
Bộ, bộ thủ
Từ điển tiếng Việt, tiếng Anh sắp các mục từ theo thứ tự abc.
Từ điển chữ Hán thường sắp theo theo nhóm, gọi là bộ, mỗi chữ Hán đều thuộc vào một (và chỉ một) bộ. Chữ đứng đầu của mỗi bộ gọi là bộ thủ, tên bộ lấy theo tên chữ đứng đầu này. Các chữ thuộc bộ nào thì trong tự dạng đều có chứa bộ thủ của nó. Ví dụ:
Các chữ nhất 一, tam 三, thượng 上, hạ 下 thuộc bộ nhất 一; nhất 一là bộ thủ của bộ này.
Chữ vạn 萬 thuộc bộ thảo 艸, trong đó thảo được viết dưới dạng 艹, là biến thể (BT) của nó. Sáng kiến sắp xếp chữ Hán theo bộ là của Hứa Thận, dùng trong cuốn tự điển Thuyết Văn Giải Tự của ông (hoàn thành năm 100). Ông chia hơn 9 ngàn chữ Hán thu thập được thành 514 bộ. Về sau người ta tìm cách sắp lại hợp lí hơn, giảm bớt số bộ. Các từ điển hiện nay sử dụng 214 bộ, sắp thứ tự theo số nét của bộ thủ; trong từng bộ, các chữ cũng được sắp thứ tự theo số nét, chữ ít nét đứng trước.
Trước đây chủ yếu sử dụng từ điển giấy, nên việc nhớ chữ nào thuộc bộ nào rất quan trọng, vì giúp tra từ điển được thuận tiện hơn. Ngày nay, ta có thể tra chữ Hán dễ dàng trên máy tính hay smartphone bằng nhiều cách, việc nhớ bộ thủ không còn quá cần thiết như xưa. Dù vậy, như đã thấy trên, bộ thủ là thành phần cốt lỏi của mỗi chữ Hán, giúp nhận ra được cấu tạo, và có khi, trường nghĩa của nó, giúp dễ nhớ mặt chữ, nghĩa chữ hơn. Vì lí do này, nhiều người chủ trương học chữ Hán, trước tiên phải thuộc lòng 214 bộ thủ. Nhưng học luôn một lúc hơn 200 bộ thủ, dù có ca, vè giúp trí nhớ, vẫn là một công việc vất vả, khá chán. Ta sẽ học và nhớ dần các bộ thủ qua các bài học.
Comments
Post a Comment