Bài 7 Học nhi bất yếm

 

1.           學而不厭

學而不厭。
学而不厌
Học nhi bất yếm /xué ér bù yàn/
= Học không biết chán.

Chữ lấy trong Luận ngữ (7.2).
Tử viết: Mặc nhi thức chi, học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện, hà hữu ư ngã tai?
= Khổng tử nói: Lặng lẽ mà tìm biết, học không biết chán, dạy người không biết mệt. Những điều ấy liệu ta có chăng?

HỌC: 爻冖子女學而不厂犬厭

01.               hào /yáo/ = hào (thuật ngữ kinh Dịch). Bộ thủ. Có hai loại hào: hào dương biểu thị bằng vạch liền, hào âm biểu thị bằng vạch đứt - - . Ba hào kết hợp lại thành một quẻ  (quái). Có tất cả 8 kết hợp như thế, nên có 8 quẻ (là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, li, khôn, đoài).
Cờ Hàn Quốc: giữa là hình lưỡng nghi, quanh là bốn quẻ: càn, khảm, khôn, li.
Cờ VN thời chính phủ Trần Trọng Kim là cờ quẻ li, gồm ba gạch; hai bên là gạch liền, giữa gạch đứt; chỉ phương nam.

02.               mịch /mì/ = tên bộ thủ, tượng hình cái nắp che.

03.               tử /zi/ = con; con trai; thầy (thêm sau họ để tôn xưng); chuyển chú đọc = chi tí.
Bộ thủ. Tượng hình đứa bé mới sinh.
Thế tử = con trưởng của vua, chúa. Phụ tử = cha con. Khổng tử, Mạnh tử = thầy Khổng, thầy Mạnh. Sĩ tử = anh học trò. Tử viết
子曰 Thầy (ám chỉ Khổng tử) nói rằng.

04.               nữ /nǚ/ = con gái; phái nữ. Bộ thủ.   Hình cô gái quỳ.

05.               () học /xué/ = học. Bộ tử. HT. Ban đầu chỉ gồm mịch chỉ nơi học + hào chỉ âm đọc. Sau thêm tử (đứa trẻ, người học) + 𦥑 (hình hai tay biểu đạt sự dẫn dắt).

06.               nhi /er/ = mà, và. Bộ thủ. Vốn là chữ TH, nghĩa gốc là râu, lông ở má; được mượn dùng (GT).
Bất dực nhi phi = không cánh mà bay. Lộ xỉ nhi tiếu = nhe răng mà cười. Nhất nhi bách = một tới trăm.

07.               bất /bù/ = không. Bộ nhất . GT. Hình cây chỉ mới ra rễ, còn nằm dưới mặt đất , nghĩa gốc là mầm cây.
不一 không như nhau. 不二 không hai (lòng), không làm lại lần hai. Bất lực = không hết lòng hết sức (ta thường hiểu là không có sức, không có khả năng).

08.               hán /hăn/ = tên bộ thủ, tượng hình sườn núi.

09.               khuyển /quăn/ = con chó. Bộ thủ, BT: . TH. Xưa, giáp cốt văn vẽ rất giống, đến nỗi Khổng Tử phải khen: Nhìn chữ khuyển sao mà giống như hình con chó vậy - thị khuyển chi tự như họa cẩu dã. Nay ở dạng chữ khải trông giống người  bị chó đuổi chạy toát mồ hôi hột hơn.

10.               () yếm /yàn/ = no đủ, thỏa mãn; chán ghét. Bộ hán . Ban đầu vốn là hình con chó miệng  ngậm miếng thịt (tức nhục ); biểu thị ý no đủ (nên chó cũng có thịt mà ăn). Về sau miệng thêm lưỡi, thành ; chữ hán cũng được thêm vào. Hẳn ngụ ý thưởng thức thức miếng thịt to. No đủ, thỏa mãn, tức đã chán chê; yếm mở rộng thêm nghĩa chán ghét.
Giản thể chỉ còn hình con chó ngồi bên bờ đất cao, sau khi đã ăn hết thịt, thấy no, thỏa đến chán ngán.
Yếm thế = chán đời. Binh bất yếm trá = việc binh thì không ngại việc lừa dối.
Đố chữ (là chữ Hán gì?):
Con chó ngồi cạnh bờ sông, miệng ngậm miếng thịt mắt trông trăng vàng.

Chú:

Khổng tử tên thật Khổng Khâu, sống vào khoảng thế kỉ thứ V trước Công nguyên (cùng thời với Lão tử và Phật Thích Ca), ông tổ của đạo Nho, từng được tôn xưng là Vạn thế sư biểu = thầy của muôn đời.

Luận Ngữ là sách do học trò ông ghi chép lại (sau khi ông mất) những lời dạy, những cuộc trò chuyện của ông với học trò. Sách được liệt vào hàng kinh điển của đạo Nho, một trong Tứ thư.

]

 

Comments

Popular posts from this blog

Bài 83. Thu tứ. Trương Tịch

Bài 40. Phú quý bất năng dâm.

Bài 41. Bần cư náo thị