Bài 22. Tận tín thư
22.
盡信書
盡信書則不如無書。學不精勤,不如不學
尽信书则不如无书。学不精勤,不如不学。
Tận
tín thư tắc bất như vô thư (Mạnh tử). Học bất tinh cần, bất như bất học. (Chu thư)
/jìn
xìn shū bù rú wú shū. xué bù jīng qín, bù rú bù xué/
=
hoàn toàn tin vào sách thì chẳng thà không có sách còn hơn. Học mà không chăm chỉ tìm hiểu đến nơi đến chốn
thì chẳng thà không học còn hơn.
Câu đầu lấy trong sách Mạnh tử (thiên Tận tâm hạ). Thư ở đây, đúng ra, không
phải là danh từ chung, phiếm chỉ một cuốn sách nào đó, mà là cách gọi tắt cuốn
kinh Thư. Câu trên có nghĩa là: Hoàn
toàn tin vào kinh Thư, chẳng thà không có kinh Thư.
Kinh Thư tức Thượng Thư, một cuốn sách lịch sử của Tàu được Khổng tử san định,
về sau được liệt vào hàng kinh điển của Nho giáo. Dù rất tôn trọng Khổng tử,
dành suốt đời để phổ biến, phát huy tư tưởng của vị sư tổ; nhưng khi đọc sách của
ông, thấy có sự bất hợp lí, ông vẫn lên tiếng cảnh báo như trên.
Câu sau trích từ Chu thư, một cuốn sách sử do một số tác giả đời Đường biên soạn.
HỌC. 盡(尽)信米丹生青精力勤。
01.
盡 (尽) tận /jìn/ = cạn, hết.
Cũng đọc tẫn. Bộ mãnh 皿 (chén). HY. Hình
tay cầm cái cọ ⺻ chùi rửa mấy hạt cơm
thừa trong bát, biểu thị bát 皿 đã hết
sạch.
Các tận sở năng = mỗi người làm hết sức theo khả năng của mình. 自盡 tự tử. Tận thiện tận mĩ = hết sức tốt đẹp.
02.
信 tín /xìn/ = tin tức; tin tưởng. Bộ
nhân 人. HY. Người 亻 biết dùng lời lẽ 言 để thông tin.
不信 không tin, không
đáng tin. 信心 lòng tin.
03.
米 mễ /mǐ/ = hạt gạo. Bộ thủ. Tượng hình mấy hạt gạo
trên sàng.
04.
丹 đan /dàn/ = chu sa; đỏ; viên thuốc. Bộ chủ 丶 (nét chấm). Tượng hình một khối đan
sa.
05.
生
sanh [sinh] /shēng/ = đẻ. Bộ thủ. HY.
06.
青 thanh /qìng/ = xanh. Bộ thủ. HT. T: sanh 生 (viết giảm thành 龶) + H: đan 丹 (châu sa, chỉ màu sắc, viết nhầm
thành nguyệt 月). 青 biểu thị màu của cây cỏ mới sanh.
Hãn thanh = sử xanh. Xưa người ta lấy
thẻ tre tươi (xanh) hơ lửa cho ra mồ hôi (hãn = mồ hôi), rồi để ráo. Sử sách viết
trên ấy giữ được lâu không mọt.
Mẹo nhớ: hình cây cỏ丰 mọc trên đất có bón xác động vật (月 tức nhục
肉, thịt) nên xanh tốt.
07.
精 tinh /jīng/ = thuần, sạch. Tinh trong yêu
tinh cũng là tinh này: 水精
Thủy
tinh.
Bộ mễ 米. HT, T: thanh青 (xanh). Nghĩa gốc là gạo đã giã sạch.
08.
力 lực /li/ = sức lực. Bộ thủ.
Hình cái cày, ngụ ý dùng sức. Thuyết Văn thì giảng là tượng hình sợi gân. Ở dạng
chữ khải trông giống cánh tay đang gồng lấy sức.
學力
sức học, trình độ học tập đã đạt được. 不力 không hết lòng hết sức (ta
thường hiểu là không có sức). 出力
ra sức, tận lực.
Phân biệt: đao 刀 cây dao.
09.
勤 cần /qín/ = cần cù, ân cần;
giúp đỡ. bộ 力 lực. HT, T: cận 堇.
* 堇 cận /jǐn/ = bôi trét.
勤王 giúp vua. Cần cù = siêng
năng, chịu khó.
孟子曰:“盡信《書》,則不如無《書》。吾於《武成》①,取二三策而已矣②。仁人無敵於天下,以至仁伐至不仁,而何其血之流杵也?”
孟子説:“完全相信《尚書》,不如沒有《尚書》。我對於(《尚書》中的)《武成》篇,就只取其中二三片竹簡(或木片)。仁人無敵於天下,憑(武王那樣)最仁的人去討伐(商紂那樣)最不仁的人,怎麼會血流得把舂米的木槌都漂起來呢?”
[註釋] ①《武成》:《尚書》篇名,早已亡佚。東漢王充《論衡·藝增》上説:“夫《武成》之篇,言武王伐紂,血流浮杵,助戰者多,故至血流如此。”②策:竹簡。
(盡心下, 3)
Mạnh Tử nói: “Quá tin vào
Kinh Thư, không bằng không có Kinh Thư. Ta đối với thiên Vũ Thành, lấy hai ba
đoạn sách mà thôi. Người nhân không có đối thủ trong thiên hạ. Lấy chí nhân
đánh bất nhân mà sao máu chảy trôi cả chày giã gạo?”
Mạnh tử. chương 14 Tận tâm hạ.
BÌNH GIẢI: (net)
Mạnh Tử tỏ ý ngờ vực khi đọc
Kinh Thư đến thiên Vũ Thành (phần Chu Thư). Ông chỉ nhặt lấy hai ba đoạn sách
trong đó, còn thì loại bỏ, không chấp nhận. Mạnh Tử nêu lý do: Vũ Vương, con của
Văn Vương, có tiếng là bậc nhân đức. Đã là người nhân đức thì không có ai chống
cự nổi, ra quân ắt chiến thắng dễ dàng; địch quân sẽ đầu hàng mà ít đổ máu. Tại
sao Vũ Vương đem quân đánh Trụ, người chí nhân đánh kẻ bất nhân, trong thiên Vũ
Thành lại chép rằng máu chảy trôi cả chày giã gạo? Như thế sự việc ấy có phải
do chép sai chăng? Do đó, những điều chép trong Kinh Thư không thể trọn vẹn tin
được.
Nguyên văn đoạn Kinh Thư ấy
được chép như sau: “Giáp Tý, muội sảng Thụ xuất kỳ lữ nhược lâm hội vu Mục Dã,
võng hữu địch vu ngã sư; tiền đồ đảo qua, công vu hậu dĩ bắc. Huyết lưu phiêu
chử: Ngày Giáp Tý, lúc rạng đông vua Thụ kéo quân đông như rừng, họp ở cánh đồng
Mục Dã, các binh sĩ không ai chống lại quân ta; toán tiền phong ngược cả giáo lại
đánh toán quân đi sau, rồi chạy. Máu người chảy trôi cả cái chày giã gạo.” (Thẩm
Quỳnh: Bản dịch Kinh Thư, Bộ Giáo dục miền Nam xuất bản, năm 1965, trang 219).
Xét đoạn văn này, chúng ta
thấy sự nghi ngờ của Mạnh Tử là có lý. Bởi vì: quân của Vũ Vương chưa đánh; tiền
quân của vua Trụ quay lại đánh hậu quân rồi chạy. Hai bên quân nhà hoảng sợ
đánh nhau, sao có thể kịch liệt, tàn nhẫn đến độ máu chảy trôi cả chày giã gạo
được. Rõ ràng đây là một đoạn văn miêu tả cường điệu hóa, bi thảm hóa cuộc chiến,
không sát thực tế.
Mạnh Tử là một hiền triết,
cho nên ông đọc sách và suy nghĩ rất cẩn thận, cân nhắc từng chữ, liệu đoán từng
việc để có một nhận thức trung thực, chắc chắn.
Kinh Thư là một cuốn sách nổi
tiếng trong bộ Ngũ Kinh của đạo Nho, tương truyền do Khổng Tử san định. Mạnh Tử
rất tôn trọng Khổng Tử, thế mà Mạnh Tử vẫn nghi ngờ những điều viết trong Kinh
Thư, có nghĩa là Mạnh Tử không mù quáng như một số học giả đời sau, khư khư tin
vào thế giá của Khổng Tử. Thực ra, những điều trong Kinh Thư có lẽ Khổng Tử chỉ
nghe thuật lại và sao chép mà không kịp phê phán. Cũng có thể, những người sau
Khổng Tử đã chép sách mà cường điệu hóa làm cho sự việc sai lệch đi.
Từ kinh nghiệm tra vấn Kinh
Thư của Mạnh Tử, chúng ta có thể suy rộng ra: không phải chỉ riêng một quyển
Kinh Thư, mà đối với tất cả các sách khác, người đọc khôn ngoan cũng phải biết
nghi ngờ tra vấn, đặt giả thuyết để có thể hiểu đúng đắn, hiểu sâu xa tư tưởng
của người xưa, chứ không vội tin theo nghĩa đen trên mặt chữ. Nếu cứ chăm chắm
tin theo nghĩa đen thô sơ mà không phê phán, người ta có nguy cơ sai lầm trong
việc trình bày hay truyền bá một lý thuyết. Triết học là một môn học đi tìm sự
thật; thế mà nghi ngờ là một trong những phẩm tính căn bản của triết học (theo
Karl Jaspers trong Triết học nhập môn). Có biết nghi ngờ người ta mới không dễ
bị mắc lừa, và chân lý mới có thể lộ diện đích thực. Nhất là đối với các tác phẩm
vào loại cổ kinh của nhân loại, người học cần phải có căn bản về môn Thuyên
thích luận (Hermeneutics) để có thể vận dụng các kiến thức phụ thuộc về thời đại
xuất hiện của cổ kinh. Nhờ đó, người học mới có thể hiểu một cách tương đối
đúng đắn được.
Câu “Tận tín Thư tắc bất như
vô Thư” của Mạnh Tử ngày nay được coi như một lời răn đáng ghi nhớ cho các học
giả khi đọc sách; không riêng với Kinh Thư, mà chữ “thư” được hiểu chung cho
các loại sách. Cứ nhắm mắt tin vào sách một cách thiển cận, chẳng thà không đọc
sách còn hơn.
Comments
Post a Comment