Bài 1. Nhất phàm phong thuận

 

1.           一帆風順 · Lục thư

                   一帆風順。
Giản thể:       一帆风顺
Âm Hán Việt: Nhất phàm phong thuận. Pinyin: /yī fán fēng shùn/
Nghĩa: Thuận buồm xuôi gió, lời chúc khi lên đường hay bắt đầu làm gì.
Chú thích:
一帆 nhất phàm /yī fān/ = một cánh buồm, cũng dùng chỉ một con thuyền.
Lục thư = 6 cách tạo chữ Hán. (Xem dưới).



HỌC CHỮ. 一二三上下巾凡帆蟲(虫)風川頁順。

01. 一 nhất /yì/ = một. Vẽ một gạch, chỉ một.

02. 二 nhị /èr/ = số 2. Vẽ hai gạch chỉ hai.

03. 三 tam /sàn/ = 3. Vẽ ba gạch, chỉ ba.
Các chữ Hán 一、二、三 dùng cách vẽ hình để chỉ sự việc muốn biểu thị gọi là chữ chỉ sự.

04. 上 thượng /shàng/ = trên; phía trên; đọc thướng = đi lên. Nét ngang 一 biểu thị mức chuẩn. Đánh dấu phía trên để chỉ sự ở trên, phía trên.
Thượng cổ = thời rất xưa. Thượng cấp = cấp trên. Thượng đế = ông Trời; đức Chúa. Thượng khách = khách quí. Thượng lộ = lên đường. Thượng thọ = sống 90t trở lên. Thướng lâu = lên lầu.

05. 下 hạ /xià/ = dưới, phía dưới; đọc há = đi xuống. Cấu tạo ngược với chữ thượng 上
Hạ nhân = người dưới, chỉ đầy tớ trong nhà. Há mã = xuống ngựa (thường đọc: hạ mã).
Các chữ Hán thượng 上、hạ 下 cũng là các chữ Hán được cấu tạo theo cách chỉ sự. Khi đổi cách đọc (thướng, há) thì nghĩa của chúng cũng bị thay đổi. Cách mượn chữ có sẵn rồi thay đổi chút ít (cách đọc, tự dạng) để dùng với nghĩa khác như thế gọi là chuyển chú.

06. 巾 cân /jìn/ = khăn. Vẽ hình cái khăn treo trên giá.
Cân quắc = khăn bịt đầu của đàn bà xưa. Mở rộng, chỉ phụ nữ.
Loại chữ dùng hình vẽ để biểu thị vật muốn nói đến gọi là chữ tượng hình.

07. 凡 phàm /fán/ = nói chung; phàm tục. , Tượng hình cái khay, nghĩa gốc là cái khay, cái mâm. Mượn làm phó từ, với nghĩa nói chung; làm danh từ chỉ cõi phàm, cõi trần (khác với cõi tiên)
Đại phàm = đại để, đại khái. Phàm nhân = người phàm. Bất phàm = hơn người.
Mượn một chữ có sẵn rồi dùng với nghĩa hoàn toàn khác (không có liên quan gì với nghĩa gốc) gọi là giả tá. (Phân biệt với loại chữ chuyển chú).

08. 帆 phàm /fān/ = buồm. Gồm cân 巾 biểu thị buồm làm bằng vải + phàm 凡 chỉ âm đọc.
一帆 một cách buồm, ẩn dụ một con thuyền. Phàm thuyền = thuyền buồm.
Loại chữ gồm hai phần, một phần biểu thị ý nghĩa, một phần biểu thị âm đọc được gọi là chữ hình thanh (hoặc hài thanh).

09. 蟲 (虫) trùng /chóng/ = xưa, tiếng chỉ chung cac loài động vật. Vẽ hình ba con côn trùng. Trong ngoặc (虫) là giản thể.
Loại chữ dùng hai hay nhiều chữ có sẵn kết hợp lại để biểu đạt ý nghĩa như thế gọi là chữ Hội ý.

10. 風 (风) phong /fēng/ = gió; phong cảnh. Gồm phàm 凡 chỉ âm đọc + trùng 虫: xưa người Tàu tin rằng gió thổi thì sinh ra côn trùng. Đây là chữ hình thanh.
Bắc phong = gió bấc. Nam phong = gió nồm. Trúng phong = trúng gió.

11. 川 xuyên /chuān/ = dòng nước, sông. Tượng hình dòng sông nước chảy. (Chữ tượng hình)

12. 頁 (页) hiệt /yè/ = đầu; trang, tờ (giấy). Tượng hình người với cái đầu to. (Chữ tượng hình)
Gia hiệt = trang nhà, trang chủ (homepage).

13. 順 (顺) thuận /shùn/ = xuôi theo. Gồm hiệt 頁 (đầu) biểu thị ý chí + xuyên 川 (sông) biểu thị sự trôi chảy. (Chữ hội ý)
Thuận thủy = xuôi theo dòng nước. Hiếu thuận = biết thương yêu và nghe lời cha mẹ.

Lục thư.

Chữ Hán nói chung có ba cách tạo chữ: vẽ hình, ghép hình và mượn hình. Chi tiết ra thì có 6 phương pháp, gọi là lục thư.

[1] chỉ sự (CS): vẽ hình chỉ ra sự việc muốn nói đến. Ví dụ chữ nhất , nhị , tam , thượng , hạ .

[2] tượng hình (TH): vẽ hình vật muốn nói đến. Ví dụ cân (vẽ hình cái khăn), trùng , xuyên , hiệt .
Hình các chữ
, , ở dạng giáp cốt văn.



[3] hội ý (HY): ghép hai hay nhiều hình (chữ), nghĩa chữ tạo thành suy từ nghĩa của các hình (chữ) được ghép. Ví dụ: trùng (ghép ba chữ để chỉ loài động vật nói chung), thuận

[4] hình thanh (HT): ghép hình tạo chữ, gồm hai phần, một phần chỉ ý nghĩa (gọi là hình bàng), một phần chỉ âm đọc (gọi là thanh bàng). Ví dụ: phàm , phong (hình bàng: trùng + thanh bàng: phàm )

[5] chuyển chú (CC): Mượn hình (chữ) có sẵn, đọc khác đi chút ít, rồi dùng với nghĩa mới; nghĩa mới này thường có liên quan với nghĩa cũ. Ví dụ: thượng ( = phía trên), chuyển chú đọc thướng = đi lên trên; hạ (phía dưới) CC đọc = đi xuống.

[6] giả tá (GT): Mượn hình (chữ) có sẵn, dùng với nghĩa mới; nghĩa này hoàn toàn không liên quan gì đến nghĩa cũ (và thường thì nghĩa cũ này bị mất luôn, người ta phải đặt chữ mới cho nghĩa cũ bị mất ấy). Ví dụ: phàm vốn có nghĩa là cái khay (tượng hình cái khay), bị mượn làm phó từ với nghĩa nói chung, nghĩa gốc cái khay không còn được dùng nữa.

Comments

Popular posts from this blog

Bài 83. Thu tứ. Trương Tịch

Bài 40. Phú quý bất năng dâm.

Bài 41. Bần cư náo thị