121 Phù dung lâu tống tân tiệm. Vương Xương Linh
121. 芙蓉樓送辛漸其一
寒雨連江夜入吳,平明送客楚山孤。洛陽親友如相問,一片冰心在玉壺。
作者: 這首詩是唐代詩人王昌齡《芙蓉樓送辛漸二首》組詩的第一首。
王昌齡(?-756年?),字少伯,行大,山西太原人,盛唐著名邊塞詩人。唐開元十五年(727年),進士及第。有“詩家天子”(或作“詩家夫子”)、“七絕聖手”、“開天聖手”、“詩天子”的美譽。世稱“王江寧”。原有集,已散佚,今編詩四卷。代表作有《從軍行七首》、《出塞》、《閨怨》。
註釋
- 芙蓉樓:原名西北樓,登臨可以俯瞰長江,遙望江北,在潤州(今江蘇省鎮江市)西北。據《元和郡縣誌》卷二十六《江南道·潤州》丹陽:“晉王恭為刺史,改創西南樓名萬歲樓,西北樓名芙蓉樓。”一説此處指黔陽(今湖南黔城)芙蓉樓。辛漸:詩人的一位朋友。
- 寒雨:秋冬時節的冷雨。連江:雨水與江面連成一片,形容雨很大。吳:古代國名,這裏泛指江蘇南部、浙江北部一帶。江蘇鎮江一帶為三國時吳國所屬。
- 平明:天亮的時候。客:指作者的好友辛漸。楚山:楚山:楚地的山。這裏的楚也指鎮江市一帶,因為古代吳、楚先後統治過這裏,所以吳、楚可以通稱。孤:獨自,孤單一人。
- 洛陽:現位於河南省西部、黃河南岸。
- 冰心,比喻純潔的心。玉壺,道教概念妙真道教義,專指自然無為虛無之心。陸機《漢高祖功臣頌》有“心若懷冰”句,比喻心地純潔。鮑照《代白頭吟》:“直如朱絲繩,清如玉壺冰。”也是以“玉壺冰”比喻清白的操守。唐人有時也以此比喻為官廉潔,如姚崇《冰壺誡》序雲“夫洞澈無瑕,澄空見底,當官明白者,有類是乎?故內懷冰清,外涵玉潤,此君子冰壺之德也”。
- 進士及第 chỉ người đỗ tiến sĩ; đến đời Minh, Thanh進士及第 chỉ ba người đỗ đầu kì thi Điện (trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa), số còn lại có tên trên bảng thứ hai thì gọi là “Tiến sĩ xuất thân” và có tên trên bảng thứ ba thì gọi là “Đồng tiến sĩ xuất thân”.
《芙蓉樓送辛漸二首》是唐代詩人王昌齡的組詩作品,作於作者被貶為江寧(今江蘇南京)縣丞時。第一首寫的是第二天早晨作者在江邊送別辛漸的情景;第二首寫的是第一天晚上作者在芙蓉樓為辛漸餞別的情景。全詩即景生情,寓情於景,含蓄藴藉,韻味無窮。
作者: 王昌齡,唐代詩人。字少伯,京兆長安(今陝西西安)人。一作太原(今屬山西)人。開元十五年(727年)進士及第,授汜水(今河南滎陽縣境)尉,再遷江寧丞,故世稱王江寧。晚年貶龍標(今湖南黔陽)尉。因安史亂後還鄉,道出亳州,為刺史閭丘曉所殺。其詩擅長七絕,邊塞詩氣勢雄渾,格調高昂;也有憤慨時政及刻畫宮怨之作。原有集,已散佚,明人輯有《王昌齡集》。
Trung Quốc hiện có hai di tích lịch sử đều có tên gọi Phù Dung Lâu, một ở Trấn Giang tỉnh Giang Tô (江蘇鎮江芙蓉樓) và một ở tỉnh Hồng Giang tỉnh Hồ Nam (湖南洪江芙蓉樓). Phù Dung Lâu Giang Tô nguyên được xây dựng trên núi Nguyệt Hoa Sơn. Tòa lầu do Vương Cống – một viên quan Thứ sử đời Tấn khởi dựng. Sử chép vào đời Đường lầu này vẫn còn nguyên vẹn. Lầu được xây mới và mở rộng vào thời hiện đại. Nhà thủy tạ Băng Tâm và đình Cúc Nguyệt bên hồ đều là kiến trúc mới. Biển ba chữ Phù Dung Lâu trên tầng hai ngôi lầu cũng là chữ mới đề của cựu tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc Giang Trạch Dân.
Chưa biết đích xác Vương Xương Linh (王昌齡 ) tiễn Tân Tiệm quay về Đông Đô Lạc Dương tại lầu Phù Dung nào. Lầu Phù Dung ở Trấn Giang (Giang Tô) hay lầu Phù Dung ở Cộng Giang (Hồ Nam)?
[1] Ngô: Thời Tam Quốc miền hạ lưu Trường Giang thuộc Ngô Quốc. Về sau sử sách hay gọi vùng này là Ngô.
[2] Sở: Sở Quốc thời Xuân Thu thuộc miền đất trung-hạ lưu Trường Giang. Sử thường hay gọi núi Sở sông Ngô chỉ chung một giải trung hạ lưu Trường Giang.
[3] Mảnh băng bình ngọc: Ngụ ý tiết tháo, chính trực liêm khiết, tấm lòng thuần khiết, trong sáng, không nhiễm tạp dục… Từ thời Lục Triều, thi nhân Bão Chiếu trong tác phẩm Đại bạch đầu ngâm đã dùng ý tượng “trong suốt như băng trong bình ngọc” (thanh như ngọc hồ băng) để ngụ phẩm cách cao khiết trong sáng của tâm hồn người thơ. Dưới thời Đường Khai Nguyên, tể tướng Diêu Sùng có viết Băng hồ giới. Các nhà thơ Thịnh Đường như Vương Duy, Thôi Dĩnh, Lý Bạch đều từng dùng hình tượng này trong thơ theo hướng ẩn dụ cho phẩm cách cao thượng, quang minh, không tì vết. Ông ngoại Nguyễn Trãi cũng dùng chữ Băng Hồ làm bút hiệu. Người viết bài này cũng thấy ở làng Đường Lâm (Sơn Tây) có giếng cổ đề mấy chữ “Nhất phiến băng tâm”. Chắc cũng là chữ đề của một nhà nho yêu Đường thi nào đó!
Học: 芙蓉斬(斩)漸連(连)楚孤壺齒(齿)齡(龄)塞譽(誉)。
01. 芙蓉 phù dung /fú róng/ = 荷花, hoa sen. Bộ thảo 艸. HT, T: phu 夫 chồng và dung 容 chứa, vẻ mặt.
(Phù dung còn là tên một loài cây thân mộc, hoa đẹp, sớm nở tối tàn).
02. 斬 (斩) trảm /zhăn/ = chém, cắt; rất. 斬草 cắt cỏ.斬新 rất mới.
Bộ 斤 cân. Chữ hội ý: Xưa có hình phạt dùng xe 車 (xa) phân thây, lại có dùng rìu斤chặt đầu hay chặt ngang lưng.
03. 漸(渐) tiệm /jiàn/ = dần dần; ngâm thấm. Bộ thủy 水. HT, T: trảm 斬 chặt.
04. 連 (连) liên /lián/ = liền, tiếp. Bộ 辵 sước. HY. Sước 辵 đi + xa 車 xe. Nghĩa gốc: xe kéo.
干連 liên can, dính líu.
05. 楚 sở /chǔ/ = nước Sở. Bộ mộc 木. HT, T: 疋 sơ. Nghĩa gốc là tên một loại cây, mở rộng dùng như động từ có nghĩa là đánh bằng roi; dùng như tính từ thì có nghĩa đau đớn (đánh roi thì đau): 苦楚 khổ sở. Hình hai cây ở trên trông ngay ngắn, dưới chữ sơ rất giống chữ chính 正, nên sở 䠂 còn có nghĩa rõ ràng, ngay ngắn. 清楚 rõ ràng. Sở cũng là tên nước thời xưa, nay là gồm địa phận các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc; nên các tỉnh này còn được gọi là đất Sở.
06. 孤 cô /gū/ = một mình, mồ côi (cha). 孤身 một mình. Bộ tử 子. HT, T: qua 瓜 (dưa).
孤寂 đơn độc quạnh hiu.
07. 壺(壶) hồ /hú/ = cái vò, nậm. Bộ sĩ 士. TH. Dưới là hình cái vò + trên là hình nắp vò viết thành 士.
冰壺 bình đựng băng, tỉ dụ lòng người thuần khiết.
08. 齒 (齿) xỉ /chĭ/ = răng. Bộ 齒 xỉ. HT. Dưới là hình hàm răng. Trên là chỉ 止 (dừng) chỉ âm.
乳齒 răng sữa. 白齒青眉 răng trắng mày xanh, chỉ thời tuổi trẻ.
09. 齡 (龄) linh /líng/ = tuổi. Bộ xỉ 齒 răng. HT, T: lệnh 令 ra lệnh. Xem răng đoán tuổi.
高齡 nhiều tuổi. 工齡 số năm làm việc. 軍齡 tuổi lính. 年齡 tuổi tác. 學齡 tuổi còn đi học.
Đồng âm: 零 số không, mưa rây.
10. 塞 tắc /sāi/ = ngăn trở; làm qua loa; tái = đất hiểm yếu.
Bộ thổ 土. HY. Phía trên là hình cái nhà có rào chặn 𡨄.
閉塞 không thông. 塞車 kẹt xe. 塞責 làm qua loa cho xong. 邊塞 nơi quan ải biên giới
Đồng âm: 則 khuôn phép; 稷 lúa tễ.
11. 譽 (誉) dự /yù/ = khen; tiếng tốt; vui vẻ. Bộ ngôn 言. HT, T: dữ 與 cùng.
稱譽 khen ngợi. 名譽 tiếng tốt.
Âm: Phù Dung lâu tống Tân Tiệm
Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
Bình minh tống khách Sở sơn cô.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.
Nghĩa: Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm
Trên sông mưa lạnh giăng kín trời, khách vào đất Ngô[1] khi đã đêm,
Sáng mai tiễn khách về, trơ trọi lại núi non nước Sở.[2]
Bạn bè ở đô thành Lạc Dương nếu có hỏi thăm đến tôi,
Bạn hãy nói tôi ở đây vẫn một tấm lòng như mảnh băng trong bình ngọc.[3]
Dịch thơ:
Mưa lạnh mù trời đêm đến Ngô,
Sáng mai tiễn khách lại đơn cô.
Kinh thành bạn cũ ai mà hỏi,
Một tấm băng tâm chẳng phai mờ.
Đoàn Lê Giang.
Comments
Post a Comment